AGATE
AGATE (tên khác : Mã não; A.agate)
CÔNG THỨC : SiO2
ĐỘ CỨNG THEO THANG MOHS : 6.5-7.0
KHỐI LƯỢNG RIÊNG : 2.6 g/cm3HỆ TINH THỂ BA PHƯƠNG
ÁNH SÁP
Agat là biến thể của chanxedon thớ mịn mà đặc trưng là màu phân lớp. Những lớp màu có thể dạng đồng tâm hoặc dài. Chúng như sao chép lại hình dạng của những khoảng trống trong lòng đất – gọi là mắt ngọc, nơi hình thành agat. Tên gọi của những loại đá “có vằn” kỳ lạ này bắt nguồn từ tên gọi cổ của sông Achaates ở Sichlia, nơi khai thác agat từ thời cổ xưa. Theo một giả thiết khác, từ “agat” bắt nguồn từ Hi Lạp cổ ahates – có nghĩa là “hạnh phúc”. Trong mọi trường hợp, tên gọi “agat” bắt nguồn từ thời Theopharast (nhà tự nhiên học Hi Lạp thế kỷ thứ IV trước công nguyên). Màu của agat giao động từ trắng sữa, phớt vàng và phớt xanh lá cây tới gần như đen. Loại đẹp nhất được gọi là agat “mắt” hoặc agat “mắt kính” với những lớp đồng tâm quanh một điểm ở trung tâm. Đôi khi loại đá này còn được gọi là “mắt cú”. Thật kỳ lạ là ở một số loại đá agat, một vùng chỉ rộng trên q cm có thể tới 7,000 lớp khác nhau. Dĩ nhiên, cấu trúc tinh vi như vậy của đá chỉ có thể quan sát dưới kính hiển vi.
RSS Feed
Twitter
7:40 PM
Thiều Nem



